This is a mobile optimized page that loads fast, if you want to load the real page, click this text.

中国人から見た日本人女性「そのスタイルの良さの秘密は?」-Bài mới của Lo

diudang189

*-: a happi-girl :-*
Thành viên BQT

Đọc vế đầu câu dịch của Lo tò mò coi loại lai kia là loại hoa quả gì, thì vế đuôi lại thấy nó là bánh kẹo xD

Lo Xem lại hen ^^ hình như đi bar nhiều quá nên lẫn rồi )
 

lonelyinsnow

Moderator

フルーツバー >> バー là thanh/ thỏi chứ k phải "quầy" hả chị?
>>Thỏi trái cây mới được lai từ dâu tây tự nhiên và đậu tương (không làm biến đổi gen di truyền) đang trở thành món bánh kẹo ưa thích của phụ nữ trẻ Nhật Bản.

Đúng k ta? Hay sai luôn rồi?:-?
 

diudang189

*-: a happi-girl :-*
Thành viên BQT

Thỏi trái cây << viết rõ ra, đọc thế kia ko hiểu đc đâu

lai << sai rồi

(không làm biến đổi gen di truyền) << cũng chưa đúng
 

lonelyinsnow

Moderator
Thỏi trái cây << viết rõ ra, đọc thế kia ko hiểu đc đâu

lai << sai rồi

(không làm biến đổi gen di truyền) << cũng chưa đúng
Em sửa lại tí k biết đc k?
-Thỏi trái cây>> thỏi làm từ trái cây
-lai>>kết hợp
-(không làm biến đổi gen di truyền) >>(không phải bằng cách biến đổi gen)
 

lonelyinsnow

Moderator
Kiếm hồi sớm giờ mà hông thấy gì khác mấy
- Thỏi trái cây>>Trái cây dạng thỏi?
- lai>> chọn lọc?
- (không làm biến đổi gen di truyền)>>(không cải biến gen di truyền)
[hay là (thuần chủng) nhỉ?] : |
 

diudang189

*-: a happi-girl :-*
Thành viên BQT

Ôi, đã bảo dịch cả câu ra coi sao mà.

Giải quyết từ フルーツバー trước nhé, vì cách dịch trước tưởng biết rồi nhưng nói chưa rõ, nhưng đến chỗ dịch lại này thì thấy LO vẫn chưa hiểu nó là cái gì thì phải?

Thực tế trong câu đã có chỗ thể hiện nó là cái gì. Ngoài ra, em có thể search để coi hình ảnh của nó để biết nó là cái gì ^^
 

lonelyinsnow

Moderator

Cứ tưởng chị bắt lỗi từ vựng thì phải tìm nghĩa cho đúng rồi mới dịch câu chứ.
Giải quyết từ フルーツバー trước nhé,
フルーツバー bánh kẹo trái cây dạng thỏi<< Nói rõ ra vầy hay sao chị? : |
 

diudang189

*-: a happi-girl :-*
Thành viên BQT
フルーツバー bánh kẹo trái cây dạng thỏi<< Nói rõ ra vầy hay sao chị? : |

"thỏi trái cây" thì sao hiểu nổi? rồi sau em lại viết thành "trái cây dạng thỏi" = 1 loại trái cây có hình thỏi sao.
 

lonelyinsnow

Moderator
"thỏi trái cây" thì sao hiểu nổi? rồi sau em lại viết thành "trái cây dạng thỏi" = 1 loại trái cây có hình thỏi sao.

Vậy nói "bánh kẹo trái cây dạng thỏi" chắc là ổn rồi hả chị?
Còn 2 từ kia thì sao ạ? Nếu chưa đúng thì em tìm nghĩa khác nữa : |
 

diudang189

*-: a happi-girl :-*
Thành viên BQT
Vậy nói "bánh kẹo trái cây dạng thỏi" chắc là ổn rồi hả chị?
Còn 2 từ kia thì sao ạ? Nếu chưa đúng thì em tìm nghĩa khác nữa : |

Uh, cần viết rõ như thế kia. Vì "thỏi" trong "thỏi trái cây" là lượng từ không thể đứng một mình được, phải kết hợp với danh từ >> thỏi kẹo trái cây, chẳng hạn. Trừ khi trước đó đã sử dụng thì sau đó có thể lược bớt. VD: Tôi có 3 thỏi kẹo. Thỏi trái cây cho em trai. Còn 2 thỏi socola tôi để ăn.

Em tra lại nghĩa của 組み合わせる.

Còn 遺伝子組み換えでない chắc là bằng 遺伝子組み換えではない. (kém ngữ pháp nên ko dám khẳng định ^^)
 

kamikaze

Administrator
Giải thích loanh quanh nhưng rút cuộc thì は là nhấn mạnh thôi. Hiểu tạm thế cho khỏi phải loạn lên.
 

lonelyinsnow

Moderator

-組み合わせる liên kết/cấy ghép? [Lòng vòng mãi mà cũng loanh quanh với nghĩa mang ý liên kết/kết hợp : |>>K biết làm sao nữa ]
-遺伝子組み換えでない>>でない cũng như ではありません thôi nhỉ? Mà chưa đúng là chưa đúng về nghĩa 組み換え ạ?
遺伝子組み換えでない>>K có sự cải biến/ biến đổi về gen?
 

diudang189

*-: a happi-girl :-*
Thành viên BQT
Giải thích loanh quanh nhưng rút cuộc thì は là nhấn mạnh thôi. Hiểu tạm thế cho khỏi phải loạn lên.

Nhân tiện chỗ kia em thử tìm hiểu coi 「~ではない」 và 「~でない」 có thay thế được cho nhau không, nhưng có vẻ giữa chúng có chút khác biệt - mà để từ từ tìm hiểu thêm cũng được ạ -cl-


遺伝子組み換えでない = không biến đổi gen (cụm từ này phổ biến mà ^^)

組み合わせる nghĩa "kết hợp" là đúng rồi, nhưng qua giải thích khi tìm từ trên kia của LO có vẻ LO thích dùng từ "lạ"? Nhiều khi dùng từ "gốc" là ổn rồi, cứ đi tìm từ khác lạ sẽ bị sai đấy.

VD: "lai" (hay, cấy ghép) chỉ dùng trong trường hợp lai (ghép) giống cây trồng, vật nuôi thôi; còn ở đây đơn giản chỉ là dâu tây và đậu tương được kết hợp sử dụng để làm ra kẹo thôi mà. (Nói vậy cho dễ hiểu, còn câu dịch em tự sắp xếp lại). Cũng ko hiểu sao dùng "chọn lọc"? Nhìn lại mới thấy có bài LO dùng "kết hợp" nhưng sau đó 1 phút lại gửi bài khác với nghĩa "chọn lọc" ;
 
L

lonelyinsnow

Guest

Hichic..K chịu đâu
遺伝子組み換えでない = không biến đổi gen
-Bữa trc em viết là "không làm biến đổi gen di truyền" chị hông chịu mà : |
-K phải dùng từ lạ hay gì đâu mà em viết xong cái kia rồi chị bảo suy nghĩ lại (ngoài sb)... nghĩ là sai rồi nên em mới tìm thêm một mớ từ khác : | rồi nghĩ nghĩ hoài mà k biết là cái nào
 

kamikaze

Administrator
-Có vẻ như @lo nhầm "không làm biến đổi gen" trong cụm này
天然ストロベリーと大豆(遺伝子組み換えでない)
là "không làm biến đổi khi kết hợp hai lọai này với nhau chăng?
Trong bài này chắc người ta chỉ dùng từ 遺伝子組み換えでない để giải thích cho anh 大豆 thôi. Do đó có lẽ để cho dễ hiểu viết lại như thế này cũng được (遺伝子組み換えでない)大豆.

-Chỗ でない và ではない thì nếu dùng では sẽ nhấn mạnh đến phần trước hơn (theo giải thích mà dịu đưa link)
 

diudang189

*-: a happi-girl :-*
Thành viên BQT

Haha, lại do chị comment làm em rối hả.
VD cụm "không làm biến đổi gen di truyền" nhé, search thử google thấy có mỗi LO dùng ). Có thể là em hiểu nghĩa, nhưng cần tìm từ dịch ngắn gọn/súc tích/chính xác hơn, nếu không dễ làm người đọc hiểu sang nghĩa khác hoặc nghĩ em không hiểu nghĩa gốc đấy.
 

lonelyinsnow

Moderator
Viết lại bài ^^
中国人から見た日本人女性「そのスタイルの良さの秘密は?」

日本は世界でもっとも肥満率の低い国の一つであり、日本女性の肥満率もほかの国の女性に比べてはるかに低い。日本女性が美しいスタイルを維持できる一方で同じアジア人種の中国人では、成人のおよそ25%が体重超過または肥満となっている。一体これは、どういうことか。中国網(チャイナネット)日本語版が分析した。

まず、ダイエット効果のある炭水化物を多く摂取すること。日本料理では、食材に手を加えることが少なく、炭水化物は自然のままの状態に限りなく近い。また、栄養も豊富で食物繊維を多く含むので、体に必要なエネルギーを提供すると同時に胃腸の蠕動(ぜんどう)運動を促し、すぐに満腹感を得ることができる。

次に、豆類食品でもダイエットすることができる。大豆は植物性たんぱく質を含み、コレステロールが低く、大豆イソフラボンと食物繊維が豊富で、滑らかな肌と美しいスタイルをサポートする。また、大豆は低GI食品で、長い間満腹感を継続できるので、エネルギーが体内で脂肪に変わるのを抑えてくれる。

日本人は大豆を好んで食べる。天然ストロベリーと大豆(遺伝子組み換えでない)を組み合わせた新しいフルーツバーが、日本の若い女性達に人気のお菓子になっている。日本料理特有の味噌汁にも大豆が欠かせない。大豆に含まれる豊富なたんぱく質は、体内で消化されやすいアミノ酸に変わり、それがカロリーの摂取を抑え、血圧を下げ、動脈硬化を防いでくれる。また、味噌汁には大量のビタミンEやカルシウム、ミネラルが含まれており、これらも日本女性が体型を維持する上での決め手となっている。

そして、食事の取り方にもポイントがある。食事の過程で、胃が食物でいっぱいになっていても、満腹感は20分経たなければやってこない。つまり、食べるスピードが速すぎると、満腹感が追いつかず、余計なものまで摂取してしまうことになるのだ。

伝統的な日本料理は、ご飯、野菜、果物、海鮮等の材料を調理し、それを箸で挟んで食べる。箸を使用することで食事のスピードを緩め、知らず知らずのうちに食事の量を減らすことができる。ありふれた存在である箸とお椀が、日本女性の太らない秘密になっていたのだ。また、日本料理ではそれぞれの食品の分量も少ない。

日本には「腹八分」という習慣がある。食事の量を少なくすることは、健康に大きく役立つばかりか、この世界的不景気にも適った時代の流れでもあるのだ。

Phụ nữ Nhật Bản trong mắt người Trung Quốc “Bí mật của một thân hình đẹp là gì?”

Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ béo phì thấp nhất thế giới và tỉ lệ béo phì của phụ nữ Nhật cũng rất thấp nếu so với phụ nữ các nước khác. Trong khi phụ nữ Nhật có thể duy trì vóc dáng đẹp thì ngược lại, người Trung Quốc cũng là người châu Á nhưng ước chừng có khoảng 25% số người trưởng thành bị dư cân hoặc béo phì. Mạng thông tin Trung Quốc (Chinanet) phiên bản tiếng Nhật đã phân tích làm rõ những điều này là như thế nào.

Trước nhất chính là việc cung cấp (cho cơ thể) nhiều tinh bột rất hiệu quả cho việc giảm cân. Trong các món ăn Nhật, sự biến đổi về bản chất của nguyên liệu rất ít và tinh bột vẫn giữ được trạng thái tự nhiên của nó. Vả lại, cũng bởi giàu dinh dưỡng và chứa nhiều chất xơ nên cùng với việc cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể chúng kích thích dạ dày hoạt động tích cực và chúng ta có thể có được cảm giác no ngay lập tức.

Tiếp theo, thực phẩm dạng hạt cũng có khả năng làm giảm béo. Đậu tương cung cấp đạm thực vật, ít chất béo, chất xơ phong phú cùng những thành phần chứa trong đậu tương hỗ trợ giữ cho dáng đẹp với một làn da mịn. Thêm nữa, đậu tương cũng là thực phẩm chứa ít GI và có thể kéo dài cảm giác no cho nên năng lượng sẽ được hạn chế biến đổi thành dạng mỡ (tích tụ) trong cơ thể.

Người Nhật rất thích ăn đậu tương. Một loại bánh kẹo trái cây mới dạng thỏi được kết hợp từ dâu tây tự nhiên với đậu tương (không biến đổi gen) đang trở thành món bánh kẹo ưa thích của phụ nữ trẻ Nhật Bản. Đậu tương cũng không thể thiếu ngay cả trong súp Miso - một món ăn đặc trưng của Nhật. Hàm lượng đạm phong phú chứa trong đậu tương chuyển hóa thành các axit amin cho cơ thể dễ dàng hấp thu và điều đó hạn chế cung cấp năng lượng, làm giảm huyết áp, ngăn ngừa xơ vữa động mạch. Hơn nữa, một lượng lớn vitamin E, canxi và chất khoáng sẵn có trong món súp Miso đã trở thành một phương thuốc mà phụ nữ Nhật Bản dùng để duy trì hình thể.

Ngoài ra, cũng có một điểm nữa ở cách dùng bữa. Trong quá trình ăn, dù dạ dày chứa đầy thức ăn nhưng nếu chưa trôi qua 20 phút thì ta vẫn chưa cảm thấy no. Tức là, khi tốc độ ăn quá nhanh, ta chưa kịp cảm thấy no thì đến cả những thứ dư thừa cũng sẽ bị hấp thu.

Những món ăn truyền thống của Nhật được chế biến từ các nguyên liệu như cơm, rau, trái cây, đồ biển,…và được thưởng thức bằng đũa. Dùng đũa sẽ làm chậm tốc độ bữa ăn và có thể làm giảm lượng thức ăn một cách tự nhiên. Bát, đũa Nhật rất phổ biến và nó trở thành một bí quyết để phụ nữ Nhật không béo lên. Thêm nữa, khối lượng thực phẩm trong từng món ăn Nhật cũng không nhiều.

Ở Nhật tồn tại tập quán “ăn uống điều độ”. Việc giảm khối lượng bữa ăn không những vô cùng có lợi cho sức khỏe mà còn phù hợp với thời kì khó khăn toàn cầu lúc này.

-----
Giải thích thêm

GI là gì?
GI - Glycaemic Index - là chỉ số phản ánh tốc độ làm tăng đường huyết sau khi ăn các thực phẩm giàu chất bột đường. Chất bột đường hiện diện ở hầu hết các loại thực phẩm chúng ta dùng hàng ngày như: cơm, bún, bánh mì và ngay cả trong sữa công thức dành cho trẻ đang lớn.

Phân loại GI cho thực phẩm?
Chỉ số GI của một thực phẩm được phân loại: thấp, trung bình hoặc cao. Thực phẩm có chỉ số GI cao thường chứa loại đường glucose hấp thu nhanh. Điều đó có nghĩa là sau khi ăn các thực phẩm loại này, thì mức đường glucose trong máu sẽ tăng vọt lên rất nhanh, nhưng cũng giảm nhanh ngay sau đó. Trong khi đó, các thực phẩm có chỉ số GI thấp sẽ tốt hơn vì mức đường huyết được tăng lên từ từ đều đặn, và cũng giảm xuống một cách chậm rãi giúp giữ được nguồn năng lượng ổn định, có lợi hơn cho sức khỏe và trí não.
(Trích từ vietbao.vn)
 

kamikaze

Administrator
-người Trung Quốc cũng là người châu Á nhưng
>>>Cùng là người châu Á nhưng người Trung Quốc.

-Trước nhất
>> Trước hết

-Trước nhất chính là việc cung cấp (cho cơ thể) nhiều tinh bột rất hiệu quả cho việc giảm cân. Trong các món ăn Nhật, sự biến đổi về bản chất của nguyên liệu rất ít và tinh bột vẫn giữ được trạng thái tự nhiên của nó

>> Xem lại để dịch hai câu này sát hơn nhé. Những chỗ bí quá không dịch sát được thì mới chọn giải pháp “thoáng”. Hai câu này chưa đến nỗi bí nếu dịch sát.

-Tiếp theo, thực phẩm dạng hạt cũng có khả năng làm giảm béo.
>>Xem lại từ “dạng hạt”.

-Ngoài ra, cũng có một điểm nữa ở cách dùng bữa.
>> nghĩ xem có cách diễn tả nào dễ hiểu hơn không. “Một điểm “ < chưa chính xác.

-Bát, đũa Nhật rất phổ biến và nó trở thành một bí quyết để phụ nữ Nhật không béo lên.

>>Xem lại cách dịch của vế đầu nhé.

-Thêm nữa, khối lượng thực phẩm trong từng món ăn Nhật cũng không nhiều.

>> chỗ này “khối lượng thực phẩm” không biết có chính xác không nhỉ?
 

lonelyinsnow

Moderator
-まず、ダイエット効果のある炭水化物を多く摂取すること。日本料理では、食材に手を加えることが少なく、炭水化物は自然のままの状態に限りなく近い。
Trước hết, phải cung cấp nhiều tinh bột cho việc giảm cân hiệu quả. Trong các món ăn Nhật, sự biến đổi bản chất trong nguyên liệu không nhiều, tinh bột vẫn rất gần với trạng thái tự nhiên ban đầu của nó.
---
*のあるlà があるphải không ạ?

-次に、豆類食品でもダイエットすることができる。
>>Các loại đậu

-そして、食事の取り方にもポイントがある
Sao “một điểm” lại k đc nhỉ? Hay là “một điều” “một vấn đề”
>>Ngoài ra, có một vấn đề nữa ở ngay trong cách dùng bữa.

Nhưng vẫn thấy ngta hay dùng câu “còn một /một vài điểm nữa cần nhắc nhở/chú ý” sao khó hiểu nhỉ?

-ありふれた存在である箸とお椀が、日本女性の太らない秘密になっていたのだ。
Bát đũa Nhật là những thứ rất bình thường nhưng nó cũng trở thành một bí mật để phụ nữ Nhật không béo lên.

-また、日本料理ではそれぞれの食品の分量も少ない。
>>Lượng thực phẩm